Thành tích KHCN năm 2004-2010

Trên nền tảng truyền thống của Khoa ĐTVT từ giai đoạn 1999-2004 và quá trình xây dựng Khoa với các bước đi chủ đạo trong thời gian qua, cán bộ và sinh viên của Khoa đã đạt được nhiều thành tích đáng tự hào trong KHCN. Phần Phụ lục liệt kê các sản phẩm KHCN nổi bật trong giai đoạn này.

Trước hết, chúng ta điểm lại các sản phẩm KHCN của 6 loại hạng mục chính: (1) bằng sáng chế và sản phẩm chuyển giao ứng dụng, (2) bài báo tạp chí quốc tế, (3) bài báo tạp chí trong nước, (4) (5) báo cáo hội nghị quốc tế, báo cáo hội nghị trong nước, (6) sách/chương sách chuyên khảo. Trong đó, sản phẩm (1) thuộc nhóm sản phẩm công nghệ, các sản phẩm còn lại thuộc nhóm sản phẩm khoa học. Hình 1 cho thấy một cách tổng thể phân bố các loại sản phẩm theo thứ tự tỷ lệ từ lớn đến nhỏ như sau: 101 báo cáo hội nghị quốc tế chiếm 45% tổng số các công trình, 42 bài báo tạp chí quốc tế (19%), 39 báo cáo hội nghị trong nước (18%), 28 bài báo tạp chí trong nước (13%), 7 công trình sản phẩm công nghệ (3%), và 4 công trình là sách/chương sách chuyên khảo (2%). Thống kê này cho thấy năng lực nghiên cứu ở cấp độ quốc tế của Khoa ĐTVT là khá mạnh. Tuy nhiên, số lượng sản phẩm công nghệ phát triển từ kết quả nghiên cứu khoa học còn hạn chế. Hình 2 cho thấy sự phát triển theo thời gian của 6 loại sản phẩm KHCN này. Chúng ta thấy rằng, các công trình khoa học được công bố tăng gần như tuyến tính từ 2004 đến 2008, nhưng lại giảm đi một nửa trong 2009 và 2010.

Số sản phẩm khoa học công nghệ theo thời gian

Kết quả trong 2010 có khả năng nhiều hơn, vì báo cáo này mới chỉ thống kê các công trình đã công bố trong nửa đầu 2010, trong khi hiện nay có một số bài báo tạp chí cũng như báo cáo hội nghị đã được gửi đăng và đang chờ duyệt. Tuy nhiên, kết quả của năm 2009 chỉ bằng kết quả của năm 2004. Điều này có thể được giải thích như sau. Thứ nhất, các cán bộ đầu ngành đã hoặc đang chuẩn bị về hưu nên phần lớn các sản phẩm công nghệ được đóng góp bởi cán bộ trẻ. Trong khi đó, các công trình khoa học quốc tế đa phần được thực hiện trong thời gian các cán bộ trẻ làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài với các nhóm nghiên cứu quốc tế mạnh, hoặc là tiếp ngay sau tiến sĩ để giải quyết tiếp những vấn đề còn mở từ luận án của mình, phát triển mạnh nhất vào khoảng năm 2008. Thứ hai, các cán bộ trẻ đang chủ động tìm hiểu và thiết lập những hướng nghiên cứu mới của riêng mình, vấn đề này đòi hỏi nhiều thời gian và công sức trong nghiên cứu để có thể công bố được những công trình ở tầm quốc tế. Thứ ba, một số cán bộ tập trung chủ yếu vào nghiên cứu triển khai, nên thời gian dành cho nghiên cứu khoa học cơ bản và nghiên cứu ứng dụng còn ít hơn. Mặc dù số lượng sản phẩm khoa học giảm sút vào năm 2009, nhưng qua thống kê, chúng ta thấy rõ ràng rằng năng lực nghiên cứu KHCN của cán bộ trong khoa là cao và có khả năng bứt phá để sản sinh ra nhiều tri thức khoa học trong thời gian tới.

 Các sản phẩm khoa học chính của các cán bộ trẻ của Khoa (bài báo hội nghị quốc tế, sách và chương sách chuyên khảo) đa phần có được từ việc hợp tác với các nhà nghiên cứu nước ngoài đã có quan hệ hợp tác trong quá trình làm nghiên cứu sinh. Điều này nói lên rằng, sự hợp tác phát triển sản phẩm khoa học giữa các cán bộ trẻ tại Khoa tuy có tiềm năng nhưng đang còn ở bước khởi đầu. Trong Khoa ĐTVT, tập thể cán bộ có sự phát triển hợp tác chặt chẽ với nhau nhất dưới sự lãnh đạo của GS.TSKH. Nguyễn Phú Thùy chính là Bộ môn Vi Cơ Điện tử và Vi Hệ thống, thể hiện qua các sản phẩm KHCN mà Bộ môn đã có trong thời gian qua.

 Trên số lượng sản phẩm KHCN được công bố, chúng ta có thể thấy một số cá nhân đã tạo nên được nhiều thành tích KHCN xuất sắc cho Khoa ĐTVT, như GS.TSKH. Nguyễn Phú Thùy, TS. Nguyễn Thăng Long, TS. Chử Đức Trình, TS. Trần Đức Tân, PGS.TS. Trương Vũ Bằng Giang, TS. Trần Xuân Tú.

 Bên cạnh sự phát triển mạnh các sản phẩm khoa học, số lượng các sản phẩm công nghệ chính được giữ vững đều đặn trong thời gian 2004-2008 (1 sản phẩm/năm) và nhảy vọt trong giai đoạn 2009-2010 (4 sản phẩm/2010). Đây là kết quả của các đề tài lớn về nghiên cứu triển khai công nghệ. Đặc biệt nhất là 02 đề tài cấp nhà nước (KC.03.12 do PGS.TS. Trần Quang Vinh chủ trì; KC.01.12 do PGS.TS. Bạch Gia Dương chủ trì), 02 đề tài cấp Sở KHCN Hà Nội (do TS. Lê Vũ Hà và PGS.TS. Bạch Gia Dương chủ trì). Các đề tài này đã phần nhiều góp phần xây dựng năng lực nghiên cứu triển khai công nghệ của Khoa.

Tổng kinh phí nghiên cứu KHCN dựa trên những đề tài đã được phê duyệt từ cấp ĐHQGHN trở lên, cũng như ngoài trường, là khoảng 10,3 tỷ đồng. Trong đó, mảng nghiên cứu công nghệ chiếm 4/5 tổng số kinh phí (đặc biệt là, 02 đề tài KC có tổng kinh phí 6,6 tỷ và 02 đề tài cấp Sở KHCN là 1,5 tỷ). Tỷ trọng này một mặt vừa thúc đẩy nghiên cứu công nghệ trong Khoa, nhưng cũng có một phần làm giảm nhẹ nghiên cứu khoa học.

Từ năm 2008 đến nay, nhằm tạo diễn đàn quốc tế trao đổi về khoa học công nghệ giữa các cán bộ khoa học Việt Nam cũng như các nhà khoa học, kỹ sư trên thế giới trong lĩnh vực Điện tử, Truyền thông và các lĩnh vực có liên quan, cán bộ khoa Điện tử – Viễn thông đã đóng vai trò chủ chốt (Technical Program Committee Chair, Finance Chair, Publication Chair, Secretariat), tích cực hợp tác với Hội Vô tuyến Điện tử Việt Nam (REV), Hiệp hội Truyền thông thuộc IEEE (IEEE-ComSoc) để tổ chức thành côngcác Hội nghị Quốc tế về các Công nghệ Truyền thông tiên tiến (ATC). Hội nghị được tổ chức thường niên (tính đến năm 2011 là lần thứ tư). Hội nghị đã được đánh giá cao và được IEEE-ComSoc xem như portfolio conference, sánh ngang với các hội nghị hàng đầu của IEEE-Comsoc (http://www.comsoc.org/conferences/portfolio-events).

 Tóm lại, qua thống kê thành tích trên đây, chúng ta thấy được hoạt động nghiên cứu – triển khai KHCN đã trở thành một hoạt động chính yếu của Khoa ĐTVT trong giai đoạn 2004-2010. Đề tài nghiên cứu khoa học của cán bộ trong khoa đã chuyển hướng dần từ định hướng nghiên cứu cơ bản sang định hướng triển khai công nghệ, hình thành các sản phẩm mẫu cho công nghiệp. Nền tảng KHCN của Khoa đã được xây dựng vững chắc, tạo tiền đề cho những phát triển mạnh mẽ và tập trung hơn trong thời gian tới.

Bài khác của Thành tích KHCN