Quan trọng vẫn là sản phẩm đào tạo…

Với đề tài cấp nhà nước “Chế tạo máy phát tín hiệu mã nhận biết chủ quyền quốc gia”, nhóm nghiên cứu của PGS.TS Bạch Gia Dương, Trường ĐH Công nghệ (ĐHQGHN), đã chế tạo thành công máy phát 3KW ở dải siêu cao tần đầu tiên ở Việt Nam. Nhưng quan trọng hơn cả, từ đề tài này, nhóm đang tạo lập nên một trường phái nghiên cứu mới.

“Phải nắm được công nghệ lõi”

Hẹn gặp PGS.TS Bạch Gia Dương trong căn phòng làm việc của ông với ngổn ngang các thiết bị điện tử. Đập vào mắt tôi là “cỗ máy” có kích thước bằng cái tủ lạnh đặt sừng sững giữa gian phòng hẹp. Như đoán được tò mò, ông cho biết ngay đó là máy phát siêu cao tần – sản phẩm của đề tài cấp nhà nước “Chế tạo máy phát tín hiệu mã nhận biết chủ quyền quốc gia”. PGS.TS Bạch Gia Dương giải thích, với thiết bị này, khi phát đi các thông tin trao đổi được mã hóa theo chuẩn không lưu sẽ giúp chúng ta nhận biết được các hoạt động của máy bay, từ đó xác định máy bay đó có vi phạm chủ quyền hay không. Ngoài ra, với thiết bị này có thể phát triển thành hệ thống giải quyết bài toán phân biệt địch – ta.

Trong ứng dụng trong quốc phòng thì chất lượng của sản phẩm tương đương với nhập ngoại trong khi giá thành chỉ bằng một phần ba. Nhưng điều quan trọng hơn cả, theo PGS.TS Bạch Gia Dương, là chúng ta đã làm chủ được công nghệ lõi để từ đó tiếp tục phát triển nghiên cứu, đồng thời chủ động trong việc tự sửa chữa, bảo hành hoặc thay thế.
Ngoài ứng dụng trên, nhóm nghiên cứu của PGS.TS Bạch Gia Dương đang có ý định triển khai công nghệ cho các tàu đánh cá. Lâu nay, tàu đánh cá được gắn mạng thông tin GPS để xác định vị trí của tàu, nhưng việc truyền thông tin từ tàu về các trung tâm cứu hộ có những lúc bị gián đoạn do tác động của mặt biển. “Nếu thiết bị này được ứng dụng vào việc truyền sóng ở khu vực biển thì có thể giải quyết được khó khăn trên, nâng cao hiệu quả việc quản lý các tàu đánh cá cũng như hoạt động trên biển khác”, PGS.TS Bạch Gia Dương khẳng định.

Với tiềm năng ứng dụng như vậy, sản phẩm máy phát siêu cao tần đã tham gia nhiều Chợ công nghệ thiết bị (Techmart) do Bộ KHCN tổ chức, được giới chuyên môn đánh giá cao và đã đăng ký sáng chế tại Cục sở hữu trí tuệ. Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứucó ý định “mang chuông đi đánh xứ người”, tham dự các Techmart ở khu vực.

Có lẽ, thành công lớn nhất của nhóm nghiên cứu là khi đã nắm được công nghệ lõi, tiếp tục phát triển chế tạo các thiết bị trong lĩnh vực siêu cao tần khác mà từ trước đến nay chúng ta đều phải phụ thuộc vào nước ngoài như: thiết bị chuyển tiếp truyền hình, chuyển tiếp các thông tin mang tính bảo mật cao; hoặc phát triển các hệ thống thu phát vệ tinh, chế tạo máy thu tìm kiếm, trinh sát vị trí của vệ tinh VINASAT đối với các trạm mặt đất.

Ngoài ra, một hướng nghiên cứu khác cũng được nhóm quan tâm là ứng dụng cho việc truyền năng lượng vũ trụ để giải quyết bài toán năng lượng sạch phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. PGS.TS Bạch Gia Dương cho biết, hiện Mỹ và Nhật là hai nước rất thành công trong lĩnh vực này.

Tạo lập trường phái nghiên cứu

Mặc dù siêu cao tần có rất nhiều ứng dụng thiết thực trong cuộc sống, nghiên cứu khoa học, an ninh quốc phòng, an ninh trong truyền thông, môi trường… nhưng việc đầu tư cho lĩnh vực này ở nước ta còn thấp. Lý do là cần tiềm lực đầu tư rất lớn với các trang thiết bị đắt tiền, cần đội ngũ cán bộ có chuyên môn giỏi, dày dặn kinh nghiệm để có thể tạo ra những sản phẩm công nghệ ứng dụng hiệu quả vào cuộc sống. “Kinh nghiệm có thể giúp đưa ra những giải pháp thiết kế chuẩn xác và các kết quả công nghệ mang tính ứg dụng cao”, PGS.TS Bạch Gia Dương nhận định.

Từ công nghệ lõi có được, nhóm nghiên cứu của PGS.TS Bạch Gia Dương đã mạnh dạn xây dựng một trường phái nghiên cứu để xác lập sắc thái nghiên cứu riêng về siêu cao tần tại Trường ĐHCN. Đây cũng là lần đầu tiên ở Việt Nam có một trường phái nghiên cứu trong một lĩnh vực vốn được xem là…khó này. Được biết, trước đây một số nơi cũng đã nghiên cứu phát triển ứng dụng siêu cao tần nhưng chưa đạt được két quả mong đợi.

“Khởi nghiệp” từ trăm bề thiếu thốn, lại tự thân vận động nhưng dám nghĩ, dám làm, không sợ thất bại, đến nay, lĩnh vực nghiên cứu của nhóm đã khẳng định thương hiệu, được nhiều nơi biết đến. “Được đầu tư chậm hơn nhưng chúng tôi đã kiên trì theo đuổi hướng nghiên cứu này. Bên cạnh đó, với lợi thế bằng việc đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản để phát triển công nghệ ứng dụng nên chúng tôi đã trở thành đơn vị tiên phong ở Việt Nam chế tạo ra thiết bị phát sóng siêu cao tần với tiềm năng ứng dụng cao”, PGS.TS Bạch Gia Dương cho biết.

Một trong những “bí quyết” thành công ngoài việc bằng mọi giá phải làm chủ được công nghệ lõi thì việc được đầu tư mạnh về khoa học cơ bản là điều mà ít cơ sở đào tạo và nghiên cứu khác có được, nhất là trong lĩnh vực siêu cao tần. Phương châm của nhóm nghiên cứu là đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản gắn với định hướng tạo ra sản phẩm công nghệ cao. Đây cũng là “sức bật” giúp nhóm nhanh chóng có được thành công nổi bật so với các cơ sở nghiên cứu khác, mặc dù những nơi này được đầu tư trọng điểm nhưng lại chỉ chuyên tâm nghiên cứu ứng dụng.

Những sản phẩm công nghệ đỉnh cao chỉ là tức thời, điều kiến PGS.TS Bạch Gia Dương trăn trở chính là tạo sự phát triển bền vững, hình thành một đội ngũ nghiên cứu hùng mạnh. Chính bởi vậy, phát triển đào tạo là điều mà ông đặc biệt chú trọng. Từ nền tảng công nghệ siêu cao tần, nhóm nghiên cứu tiếp tục phát triển thiết kế những chip (IC) siêu cao tần, đây là hướng nghiên cứu đã góp phần đào tạo được nhiều nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên. Ban đầu chỉ có 2 thành viên nhưng dần PGS.TS Bạch Gia Dương đã đào tạo thế hệ kế cận để hình thành nên một nhóm nghiên cứu mạnh.

“Khi giải quyết xong bài toán cũng là lúc chúng tôi có được sản phẩm công nghệ, nhưng quan trọng hơn chính là sản phẩm đào tạo, hình thành một nhóm nghiên cứu mạnh có kiến thức cơ bản vững chắc, giàu kinh nghiệm thực tế để từ đó làm chủ được những công nghệ mới nhất”, PGS.TS Bạch Gia Dương bộc bạch.

Cũng như nhiều nhà khoa học khác, tâm nguyện của nhà khoa học gắn bó cả đời mình cho lĩnh vực siêu cao tần này là nhìn thấy sản phẩm của mình “sống” được trong thị trường, và cũng để chứng tỏ một điều rằng, những sản phẩm công nghệ trong nước hoàn toàn có thể cạnh tranh với các sản phẩm của nước ngoài. “Có đầu ra của sản phẩm, có thị trường để quay vòng vốn phát triển công nghệ sâu hơn, lấy sản phẩm nuôi nghiên cứu” là định hướng phát triển nhóm nghiên cứu của PGS.TS Bạch Gia Dương.

Những thành công ban đầu và ý tưởng táo bạo hình thành nên một trường phái nghiên cứu của nhóm nghiên cứu Trường ĐH Công nghệ là minh chứng cho thấy, không chỉ có các viện nghiên cứu lớn, các trường đại học cũng đang gia nhập mạnh mẽ vào dòng chảy khoa học nước nhà.

Theo VNU