Hồi kí: Trưởng thành từ khoa Vật lý

Tôi đặt tên cho những dòng hồi ức này như trên vì mong muốn tất cả anh chị em cán bộ giảng dạy cũng như nhân viên phục vụ của Khoa Điện tử Viễn thông Trường Đại Học Công nghệ-ĐHQG Hà Nội, mãi nhớ cội nguồn của mình – Khoa Vật Lý trường ĐHKHTN Hà Nội, một trong các Khoa giầu truyền thống của Trường ĐHTH Hà Nội cũ ( 1956-1995)

Thấm thoát cũng đã 10 năm trôi qua kể từ khi Khoa Vật Lý tổ chức lễ kỷ niệm 40 năm và từ một ngày đầu Xuân sau Tết Âm lịch Bính Tý (1996), 17 anh chị em (Ảnh) tập hợp tại gác 2 nhà C Thượng Đình mở Champagne Nga, đón nhận quyết định thành lập Khoa Công nghệ Điện tử Viễn thông – Một trong hai Khoa tiền thân của Khoa Công nghệ trực thuộc ĐHQG Hà Nội và Trường Đại Học Công nghệ ĐHQG Hà Nội ngày nay. 17 anh chị em đó là:

1- ThS Chử Văn An
2- PGS Nguyễn khang Cường
3- PGS.TS Vũ Như Cương
4- Th.S Nguyễn Văn Cương
5- PGS.TS Nguyễn Kim Giao
6- PGS.TS Nguyễn Viết Kính
7- GS Nguyễn Văn Ngọ
8- PGS.TS Phạm Tế Thế
9- ThS. Nguyễn Quốc Tuấn
10- PGS Nguyễn Hữu Xý
11- Th.S Trần Quang Vinh
12-Th.S Nguyễn Vinh Quang
13-TS Vương Đạo Vy
14-Lương đăng Định
15-Phạm thị Loan
16-Phạm Thị Tuyết
17- Đoàn Thị Tuyết (Sau chuyển trở lại Khoa Vật Lý )

Buổi họp mặt không tưng bừng như thông thường. Các thành viên hình như đều có cùng một tâm trạng vui, buồn, lo lắng, lẫn lộn. Không buồn sao được khi mỗi người từ đây phải tạm biệt Khoa Vật Lý, nơi mình có biết bao kỷ niệm sâu sắc, chung lưng đấu cật, vượt qua bao nhiêu khó khăn, cùng nhau chia ngọt xẻ bùi mấy chục năm, cùng công tác, học tập và trưởng thành để chuyển công tác sang một đơn vị mới. Với tôi nỗi buồn còn sâu lắng hơn nữa vì mình vừa mới được vinh dự làm Trưởng ban tổ chức lễ kỷ niệm 40 năm Khoa Vật Lý mà hôm nay đây đã là một cán bộ giảng dạy của một đơn vị khác.

Các thế hệ cán bộ trường ĐH Công nghệ

Quên sao được những năm tháng gian khổ của chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, với mật danh T 104B BC 11C sơ tán tại Vân Yên Đại Từ Thái Nguyên: đi rừng lấy nứa, gỗ, làm tranh, buộc dứng, trình tường, dựng nhà ở, lớp học, bếp ăn… nhưng tình cảm tập thể thật thắm thiết chan chứa: Lúc đói chia nhau từng củ sắn, bát canh rau muống “toàn quốc” nấu trong chảo gang; khi vui cùng nhắm miếng thịt con trâu bị đổ do rét mùa đông, con dê gày guộc, con gà béo tăng gia được hay bát cháo bột mì cua suối rồi thưởng thức chén chè Tân Cương thơm phức bên ngọn đèn dầu sáng nhờ ống thuỷ tinh phòng thí nghiệm. Quên sao được mùa hè năm 1970, khoá đầu tiên đi coi thi tuyển sinh tại địa phương Diễn Châu Nghệ An. Dưới bom đạn của giặc Mỹ, cả đoàn mấy chục anh chị em cưỡi xe đạp, sau khi thăm làng Sen quê hương Bác Hồ, bám đuôi nhau từ thành phố Vinh quay trở ra tập kết tại Diễn Châu đúng lúc trời đã tối (1). Sau một đêm nghỉ tại “khách sạn ngàn sao”- một sân phơi thóc của Hợp Tác Xã, cả Đoàn được phân công về điểm thi Diễn Yên. Những lần đi công tác, đưa sinh viên đi thực tập thực tế bằng xe đạp năm 1967 phải đi ban đêm để tránh máy bay giặc Mỹ. Khởi hành từ cây đa Làng Duyên Vân Yên, ra Đại Từ, qua Quán Triều, Lưu Xá chằng chịt hố bom, trời nhá nhem tối, một sinh viên (2) đã rơi từ trên cầu xuống suối nhưng may không bị thương nặng vẫn tiếp tục cùng đoàn về đến nơi thực tập tại Tam Dương Vĩnh Yên. ” 7 giờ Cây đa (Làng Duyên), 3 giờ (chiều) cây Gạo (bên bờ sông Hồng thuộc Nhật Tân Hà Nội) – chặng đường dài 115km phải vượt qua của những chuyến đi công tác Hà Nội bằng xe đạp…Rồi sau đó là những Cổ Loa – Đông Anh, Bình Đà – Hà Tây, Đông Lỗ – Hà Bắc. Thượng Đình Mễ Trì là nơi định cư lâu nhất của Khoa cho đến hôm nay…Cái thuở ban đầu ở đây bên cạnh những nhà tầng, nơi khu đất trống, mấy dẫy nhà cất lên bằng vật liệu tranh tre nứa lá từ nơi sơ tán mang về. Chỉ các thày cô giáo có khó khăn về nhà ở mới được “ưu tiên” phân phối. Từ mảnh đất Thượng Đình này trong năm 1972 tôi đã đã tiễn nhiều đồng nghiệp và sinh viên nhập ngũ ra mặt trận còn mình cùng anh em trong Bộ môn tham gia nghiên cứu phục vụ chiến đấu trong đề tài GH – Ngụy trang mục tiêu chống bom Laser. Những buổi làm thí nghiệm trong phòng thí nghiệm tại Bô Giao Thông Vận tải và đặc biệt là tại hiện trường bảo vệ cầu Phủ Lỗ ngày 5 tháng 10 năm 1972 là kỷ niệm không bao giờ quên.

Tôi vui và cũng như các anh chị em khác lo lắng vì mình được là một trong số những cán bộ đầu tiên của Khoa Công nghệ Điện Tử Viễn – Thông, nhưng sẽ phải tự đổi mới bản thân nhất là trong chuyên môn. Lĩnh vực mà mọi người tự nguyện dấn thân vào có biết bao điều mới mẻ khác với lĩnh vực Vật Lý cơ bản trước đây. Song hôm nay tôi thấy vui hơn vì sau nhiều năm tồn tại, phát triển, trải qua nhiều khó khăn Khoa đã trưởng thành từng bước và nay dần đi vào ổn định và phát triển. Năm nay Khoa tổ chức kỷ niệm 10 năm ngày sinh của mình, đúng là năm Khoa Vật lý trường ĐHKHTN kỷ niệm 50 năm. Tôi nghĩ tất cả các thày, cô giáo và cán bộ nhân viên hai Khoa đều rất vui mừng trong năm kỷ niệm đày ý nghĩa này. Lý do đơn giản đây là hai Khoa anh em. Sự kiện khai sinh Khoa Công nghệ Điện Tử Viễn Thông của Trường ĐHKHTN vào ngày 28- tháng 2 năm 1996 – là một bước trưởng thành của Khoa Vật Lý , theo tôi, không phải là một việc tình cờ mà là sự kiện tất yếu sau nhiều năm tháng “thai nghén”, gắn liền với quá trình đổi mới tư duy và nhận thức trong giáo dục và đào tạo, về nhiệm vụ chính trị của đội ngũ thày giáo của một Khoa Khoa học cơ bản – Khoa Vật Lý, cũng như của lãnh đạo các cấp từ trường đến ĐHQG cũng như Bộ GD và ĐT trong tình hình mới.

Chúng ta hãy nhớ lại, những năm 80, cuộc sống của các thầy cô giáo cũng như anh chị em công nhân viên của Khoa hết sức khó khăn. Ngoài một vài thày được đi đào tạo Tiến Sỹ ở nước ngoài ( Ba Lan, Đức, Liên Xô… ), một số thầy đi làm chuyên gia dạy học ở châu Phi ( An giê ri, Ma đa gat xca, An gô la…). Anh Chị em ở nhà ngoài nhiệm vụ giảng dạy và NCKH, theo chủ trương “ bung ra “ của nhà nước lo lao động sản xuất, thực hiện các hợp đồng với các cơ sở giải quyết những yêu cầu của thực tế ( phù hợp và kể cả không phù hợp với chuyên môn ) để có điều kiện tồn tại (3). Kinh phí nhà nước cấp chỉ đủ để trả lương cho CBCNV và cho một số các hoạt động tối thiểu của nhà trường. Kinh phí giành cho các hoạt động phục vụ đào tạo, củng cố sở vật chất, NCKH cũng như các chỉ tiêu giành cho đào tạo đội ngũ cán bộ ở nước ngoài như trước đó hầu như không có. Nhà nước bắt đầu có chủ trương đào tạo trên đại học trong nước. Trường ĐHTH nói chung và Khoa Vật Lý nói riêng đứng trước rất nhiều vấn đề nan giải ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo và NCKH, nâng cao trình độ cho đội ngũ , tạo nguồn bổ xung cán bộ cho Khoa trong tương lai.Trong Khoa Vật lý đã có nhiều suy nghĩ, lo lắng, nhất là của các cán bộ giảng dậy đàn anh, về tình hình chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của Khoa, về vị trí “ lá cờ đầu trong ngành giáo dục đại học” của trường ĐHTH nói chung và của Khoa Vật Lý nói riêng. Đặc biệt Lãnh đạo Khoa Vật Lý cùng toàn thể thày cô giáo và CBCNV của Khoa cũng đã rất trăn trở suy nghĩ làm sao trong điều kiện khó khăn phải có những biện pháp cụ thể để vừa có thể cải thiện đời sống của CBCNV mà vẫn bảo đảm chất lượng đào tạo, cung cấp cho xã hội những “ sản phẩm” có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu sử dụng của xã hội trong tình hình mới. Một nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo và suy rộng ra là lẽ tồn tại của một Khoa đào tạo về Khoa học cơ bản, đó là chất lượng thí sinh thi vào trường ĐHTH nói chung và Khoa Vật Lý nói riêng ngày một giảm. Có khoá, để bảo đảm chỉ tiêu tuyển sinh, điểm chuẩn phải hạ xuống thấp dưới điểm trung bình. Đây là một việc làm bất khả kháng vì nhà nước phân kinh phí đào tạo chủ yếu theo chỉ tiêu tuyển sinh và số lượng sinh viên chính khoá. Sự kiện này có nguyên nhân sâu xa ở chỗ sinh viên tốt nghiệp ngành Khoa học cơ bản rất khó kiếm việc làm, “ sản phẩm “ của Khoa Vật Lý trường ĐHTH Hà nội chưa đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn nền kính tế đang có xu hướng chuyển đổi cơ chế.

Trước tình hình trên, toàn thể đội ngũ CBCNV, thày cô giáo ở tất cả các bộ môn của Khoa Vật Lý đã phấn đấu hết mình, có rất nhiều đóng góp xứng đáng xây dựng Khoa và trường ĐHTH. Nhiều hoạt động của Khoa trong lao động sản xuất, đào tạo và NCKH được nhà trường và Bộ ĐH & THCN (nay là Bộ Giáo Dục và Đào tạo) ghi nhận khen ngợi. Ở đây trong phạm vi của một bài hồi ức nhỏ này tôi không thể liệt kê hết những thành tích toàn diện của đội ngũ các thày cô giáo và CBCNV của Khoa Vật Lý, mà chỉ giám nêu lại một số sự kiện trong hoạt động đào tạo của Khoa có liên quan đến tính tất yếu của sự kiện Khai sinh của Khoa Điện Tử – Viễn Thông và thể hiện cụ thể của sự đổi mới tư duy trong đào tạo. Tư duy này được hình thành rất sớm trong lãnh đạo và thày cô giáo của Khoa ngay từ những năm trước Đại Hội VI Đảng Cộng Sản Việt Nam và đây là điêù đáng tự hào của Khoa Vật Lý. Thật vậy trong những năm 80, Để bảo đảm chất lượng đào tạo và sản phẩm đào tạo thích ứng với thị trường lao động đang chuyển đổi cơ chế Khoa Vật Lý đã:

- Mở hệ Phổ thông chuyên Vật Lý năm 1985. Đây là hệ Chuyên Vật Lý đầu tiên của Việt Nam tuyển sinh toàn quốc thông qua Bộ Giáo Dục với mục đích kích thích học sinh năng khiếu Vật Lý PTTH, để tạo nguồn đầu vào có chất lượng cho Khoa. Mở một hệ đào tạo mới là một công việc không đơn giản vì Khoa Vật Lý phải thuyết phục không những chỉ lãnh đạo trường ĐHTH (có liên quan đến cơ sở vật chất cho khối chuyên và công tác quản lý) mà còn phải thuyết phục cả Bộ chủ quản – Bộ ĐH & THCN ( có liên quan đến chỉ tiêu tuyển sinh và cấp học bổng ) , và Bộ Giáo Dục – Bộ chủ quản của khối PTTH (có liên quan đến công tác tuyển sinh trên phạm vi toàn quốc).

- Toàn thể các CBGD Khoa Vật Lý đã tham gia biên soạn “Bộ chương trình đào tạo đổi mới”. Bộ Chương trình này được soạn thảo theo phương châm: cơ bản, hiện đại, thiết thực và với phương thức “mềm hoá”. Phương thức “mềm hoá” tạo điều kiện cho sinh viên, ngoài phần “cứng” bắt buộc phải học, chủ động chọn cho mình những giáo trình đại cương vòng hai cũng như các chuyên đề thuộc các chuyên ngành khác chuyên ngành mình học nhưng cần thiết cho việc hiểu sâu sắc hoặc mở rộng những kiến thức của chuyên ngành mình theo học và phù hợp với định hướng công tác sau khi tốt nghiệp. Tổng thể sinh viên vẫn bảo đảm thời lượng quy định của khoá học. Bộ Chương trình này đã được Nhà Xuất Bản ĐHTH in tipô và phát hành vào năm 1986, đúng vào năm Đại Hội VI đổi mới của Đảng CS Việt Nam.

- Tập trung sức và kinh phí hỗ trợ của hợp tác nước ngoài để hiện đại hoá phòng thực tập Vật Lý Đại Cương, gửi thực tập sinh là cán bộ giảng dậy của Khoa ra nước ngoài để hoàn thành nội dung luận án về nước bảo vệ PTS. Tranh thủ các chương trình hợp tác với nước ngoài để đào tạo nâng cao trình độ cán bộ và đào tạo trên đại học. Phòng thực tập Vật Lý Đại cương đã được đổi mới trong thời kỳ này. Một số NCS là cán bộ giảng dạy của Khoa đã được đi thực tập theo đề tài luận án Tiến Sỹ, thu tập số liệu thí nghiệm cho luận án và về bảo vệ luận án ở trong nước. Một số khác được đi làm luận án Tiến Sỹ bằng kinh phí của dự án hợp tác(4).

- Tất cả các môn thi học kỳ và cuối khoá đều phải thực hiện theo hình thức thi vấn đáp với 2 thày cùng hỏi thi và cho điểm. Hình thức thi chủ đạo này đánh giá kết quả học tập của sinh viên chính xác và tránh được hiện tượng quay cóp, học vẹt dễ dàng hơn.

Hệ phổ thông Chuyên Vật Lý, tính “mền dẻo” của Chương trình đào tạo ( có phần “ bắt buộc” và phần “ tự chọn” ) cũng như chủ trương hợp tác đào tạo với nước ngoài cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị thời sự.

Những đổi mới trên đã phần nào cải thiện chất lượng đào tạo của Khoa song chất lượng đầu vào cũng không nâng cao được bao nhiêu. Đầu ra của sinh viên tốt nghiệp vẫn khó khăn, hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu là do nội dung cũng như chuyên ngành đào tạo vẫn chưa bám sát vào yêu cầu của thực tiễn sản xuất trong tình hình mới. Tháng 11-1992, Hội nghị toàn Đảng Bộ Khoa Vật Lý đã thảo luận, phân tích nguyên nhân của tình hình trên và thông qua một nghị quyết có tính chất lịch sử quan trọng liên quan đến sự khai sinh Khoa Công nghệ Điện Tử Viễn Thông sau đó 4 năm. Đó là nghị quyết về “ Gắn kết các đề tài nghiên cứu KH của Khoa với các Chương trình nghiên cứu KHKT & Công nghệ của nhà nước và mở Đào tạo Liên ngành Điện Tử -Tin Học-Viễn Thông“(5). Đào tạo sinh viên thuộc các lĩnh vực trên là một hướng đúng đắn. Đây là một ngành tiệm cận với kiến thức Khoa học Kỹ thuật Công nghệ tiền tiến hiện đại mà thực tiễn sản xuất đang và sẽ có nhu cầu lớn. Sản phẩm sẽ đáp ứng tốt cho thị trường lao động trong thời kỹ đổi mới. Khoa Vật Lý đào tạo theo hướng này với sự tham gia của các Bộ Môn Vật Lý Vô Tuyến, Quang và Quang phổ, Điện tử Hạt nhân, Địa Vật Lý (6) được 3 khoá . Đầu năm 1995 lãnh đạo Đại Học Quốc Gia giao nhiệm vụ cho Khoa Vật Lý nghiên cứu lập kế hoạch Đào tạo ngành ĐT-VT vì có “ dự án tài trợ của nước ngoài” rất lớn (!) và muốn Khoa Vật Lý chủ trì ( tuy vẫn băn khoăn về khả năng của Khoa ). Nhận thấy đây là một cơ hội phát triển Khoa và là nhiệm vụ ĐHQG giao phù hợp với tư duy đổi mới để phát triển, Ban lãnh đạo Khoa Vật Lý đã cử PGS.TS Nguyễn Viết Kính làm đại diện Khoa tham gia Ban soạn thảo dự án thành lập Khoa Công nghệ Điện Tử -Viễn Thông của trường ĐHKHTN-ĐHQG Hà Nội. Trong phạm vi Khoa, một Ban nghiên cứu nội dung Chương trình khung đào tạo của ngành Công nghệ Điện Tử Viễn Thông cũng hình thành. PGS Nguyễn Viết Kính phụ trách Ban này đã tổ chức nhiều buổi hội thảo về Công nghệ Điện Tử-Viễn Thông và tình hình phát triển của ngành ở trong nước và thế giới, về tính cấp thiết của việc mở ngành đào tạo này ở nước ta, về năng lực đào tạo ngành này của đội ngũ cán bộ giảng dạy của Khoa Vật Lý, về mặt mạnh của đội ngũ cũng như nhược điểm cần khắc phục. Thành phần tham dự hội thảo rất rộng rãi bao gồm các đại diện lãnh đạo của Trường, Khoa, các chuyên gia về ĐT-VT từ các đơn vị bạn ( ĐHBK, Viện KHKT Bưu Điện, Hội VTĐT…) và các CBGD của Khoa.

Một khó khăn rất lớn khi thành lập Khoa mới là vấn đề tư tưởng của đọi ngũ CBCNV của Khoa và nhất là nhân sự cho Khoa mới. Những ai và bộ phận nào của Khoa Vật Lý sẽ tham gia. Đây là một thử thách lớn của Đảng Uỷ Khoa Vật Lý. Về vấn đề đào tạo ngành Điện Tử Viễn Thông thì có sự nhất trí. Song tổ chức đào tạo thế nào thì có nhiều ý kiến khác nhau. Cũng có ý kiến bày tỏ sự lo lắng, cho rằng tách nhân sự của Khoa Vật Lý sẽ làm yếu Khoa, thậm chí là “ phá Khoa”. Tuy nhiên trên quan điểm phát triển, phải thấy đây là cơ hội để Khoa đổi mới, là nhiệm vụ cấp trên giao, là đóng góp của Khoa cho sự nghiệp phát triển Đào tạo của nhà trường. Chính vì vậy cuộc họp Đảng Uỷ Khoa mở rộng ngày 3 tháng 2 năm 1996, sau khi thảo luận, phân tích cặn kẽ vấn đề công tác chính trị tư tưởng và vấn đề nhân sự cho Khoa mới, đã nhất trí rằng“… sự thành lập Khoa mới do Khoa Vật Lý làm nòng cốt là sự kiện chứng tỏ sự trưởng thành của Khoa” ; vấn đề đi hoặc ở sẽ thực hiện theo phương châm tự nguyện “…để các thầy cô giáo và CBCNV đề xuất nguyện vọng. Chi Bộ thuộc các Bộ môn liên quan cùng Bộ môn tính toán lực lượng đi ở cho phù hợp và làm công tác tư tưởng cho quần chúng”. Về phía anh chị em tham gia lập Khoa mới cũng cần “…nhận thức đây là một dịp để mỗi người tự đổi mới, tự đào tạo lại mình, là nhận nhiệm vụ khó khăn và phải có quyết tâm vươn lên…”. Danh sách tham gia thành lập Khoa mới lúc này là 21 dồng chí. Đảng Uỷ Khoa cũng kiến nghị nhà trường ưu tiên chỉ tiêu biên chế cho Khoa Vật Lý sau này. Ngày 9 tháng 2 năm 1996 – trước ngày nghỉ Tết Âm Lịch, Đảng Uỷ trường ĐHKHTN họp về vấn đề nhân sự của các đơn vị đã duyệt danh sách chính thức tham gia lập Khoa Công nghệ Điện Tử -Viễn Thông là 17 đồng chí ( Có mặt trên ảnh kỷ niệm trên ). Nghĩa là danh sách tham gia lập Khoa mới đã được chốt lại từ trước Tết Âm lịch 1996 mặc dù “Quyết định thành lập Khoa Công nghệ Điện Tử-Viễn Thông” trực thuộc Trường ĐHKHTN đã có từ trước đó vào tháng 1-1996. Ngày 28 tháng 2 năm 1996 quyết định này được chính thức phát hành. Ngoài số 17 anh chị em nêu tên ở trên, Khoa tiếp tục nhận bổ xung thêm các anh, chị: TS. Ngô Diên Tập , TS. Hồ Văn Sung , TS. Trịnh Anh Vũ, ThS. Trương Vũ Bằng Giang (nay đã là TS), ThS. Nguyễn Thị Hồng, CNh.Chử Đức Trình, ( nay đã là ThS và đang làm luận án TS ở Hà Lan), Chị Nguyễn Thị Ngọc.

Có thể nói những ngày tháng đầu tiên của Khoa mới là vô cùng khó khăn. Cơ sở vật chất của Khoa lúc này là hai phòng diện tích cỡ 50m2 tại gác 2 nhà C khu Thượng Đình với một số bàn ghế cũ kỹ xin được từ các đơn vị bạn. Trang thiết bị phương tiện cần thiết cho phục vụ giảng dậy, thực tập và NCKH hầu như không có gì. Kinh phí được nhà trường cấp để xây dựng một Khoa mới là một phần của Dự án Công nghệ thông tin (7). Ngay từ những ngày đầu, trong khoảng thời gian rất ngắn Khoa đã ổn định được tổ chức. Ban chủ nhiệm Khoa đầu tiên gồm 3 dồng chí: PGS Nguyễn Hữu Xý – Chủ nhiệm Khoa, PGS Nguyễn Viết Kính và PGS Vũ Như Cương – P.Chủ nhiệm Khoa. Toàn thể anh chị em CBCNV của Khoa đã nỗ lực hết sức mình, lao động không mệt mỏi, vô điều kiện. Chỉ sau một năm Khoa đã tạo dựng cơ sở vật chất ban đầu gồm các phòng thực tập về máy tính, thực tập về Điện Tử và Viễn thông với các module thực hành tiên tiến. Thời gian đầu một số các bài thực tập phải bố trí ngoài hành lang của gác 2 nhà C. Việc soạn thảo bộ Chương trình khung và Chương trình chi tiết cũng như các giáo trình lý thuyết và thực hành kèm theo ( trước tiên cho hệ Cử nhân công nghệ chính quy, sau đó cho hệ Cao Đẳng, hệ Cao học và Tiến sỹ ) là một công trình có ý nghĩa của tập thể cán bộ giảng dạy của Khoa. Bộ chương trình được soạn thảo phải mang đặc thù của đơn vị mạnh về Khoa học cơ bản song về kỹ thuật và công nghệ phải là tiền tiến, hiện đại; nghĩa là phải đáp ứng được những vấn đề cơ bản của kỹ thuật tiền tiến và công nghệ hiện đại trong lĩnh vực Điện Tử – Viễn Thông. Để có được Bộ chương trình đáp ứng được các yêu cầu trên, công tác chuẩn bị biên soạn được tiến hàng rất công phu như: tham quan tìm hiểu các phòng thí nghiệm của các đơn vị bạn như ĐHBK, Viện KHKT Bưu Điện ; gặp gỡ tham khảo ý kiến của các cán bộ đầu ngành về ĐT-VT của các đơn vị trên và của hội VTĐT Việt Nam, thu thập các tài liệu, sách báo, các chương trình đào tạo về ĐT-VT ở trong và ngoài nước tại các thư viện của các đơn vị bạn cũng như của Vụ Đại Học thuộc Bộ Giáo Dục và Đào Tạo. Sau khi tính toán cân nhắc các môn học, sự cân đối giữa Tin học,Toán học bổ xung cho chuyên môn, Vật Lý, các môn cốt lõi của Chương trình, các môn tự chọn…theo hướng ĐT-VT. Bộ Chương trình Đào tạo đầu tiên của Khoa đã khẩn trương ra đời kịp thời phục vụ giảng dạy và học tập cho lớp sinh viên Khoá I ( K40 ) tốt nghiệp năm 1999. Từ những ngày tháng đầu khó khăn, tập thể Khoa đã đoàn kết nhất trí, phấn đấu không mệt mỏi để có được một cơ ngơi tương đối khang trang như hôm nay, đó là: Năm Bộ môn, một hệ thống chương trình, giáo trình cập nhật tiên tiến hiện đại cả về lý thuyết lẫn thực hành phục vụ đào tạo ở cả 3 cấp: Cử nhân, Thạc sỹ, Tiến sỹ, một hệ thống các phòng thực tập ( Tin học và Máy Tính, Điện tử và Hệ thống Viễn Thông…) và phòng thí nghiệm của các Bộ môn phục vụ nghiên cứu. Bên cạnh đó là một đội ngũ các thày cô giáo và các sinh viên giỏi do Khoa đào tạo giữ lại Khoa (8), đang trưởng thành cùng các Giáo sư Tiến sỹ ở trong và ngoài nước được bổ xung và hợp tác tham gia giảng dạy ở Khoa. Tuy hãy còn nhiều bất cập, song với vốn liếng như trên chúng ta có thể tự hào để tiến tới Kỷ niệm 10 năm thành lập Khoa, rút ra được nhiều bài học bổ ích để tiếp tục đưa Khoa phát triển, cùng người anh em Khoa Vật Lý, “…góp phần xây dựng ĐHQG Hà Nội sớm trở thành “ trung tâm đào tạo đa ngành đa lĩnh vực chất lượng cao, tiến tới đạt trình độ khu vực và quốc tế.” ” (9)

Trên đây là mấy dòng hồi ức về Khoa Vật Lý và về cội nguồn của Khoa ĐT-VT Trường Đại Học Công nghệ ĐHQG Hà Nội. Những sự kiện được nhắc đến ở đây là một phần của rất nhiều sự kiện mà tôi đã trực tiếp tham gia hoặc được các lãnh đạo cấp trên giao phó thực hiện. Nó được viết ra theo chủ quan của tác giả và do nhiều hạn chế mà tôi không thể kể hết được các sự kiện liên quan khác. Do đó chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót. Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Viết Kính về những ý kiến bổ sung quí báu. Nếu đồng chí nào thấy cần bổ sung gì cho chính xác hơn, tôi xin hết sức chân thành cảm ơn. Nếu còn có những điều gì chưa chỉnh mong các bạn và đồng nghiệp lượng thứ. Mong ước nhỏ của tôi từ ngày đầu lập Khoa CNĐT-VT cho đến nay vẫn là hai Khoa hợp tác chặt chẽ trong Đào tạo và nghiên cứu Khoa Học không chỉ với tư cách hai đơn vị độc lập theo những cơ chế chung, nhưng còn theo tinh thần là hai Khoa Anh Em. Nhân dịp Kỷ niệm này, xin chúc hai Khoa mãi mãi phát triển, có nhiều đống góp xứng đáng cho sự nghiệp Giáo Dục và Đào tạo của đất nước Việt Nam chúng ta.

Bài viết của
PGS.TS Vũ Như Cương
Nguyên: Chủ nhiệm Bộ Môn Quang và Quang Phổ
PCN Khoa, Bí thư Đảng Uỷ Khoa Vật Lý
Bí thư Đảng Uỷ Khoa Công nghệ ĐHQG Hà Nội